Rss Feed

Kỷ niệm về một thời gian khó

Đăng lúc: Thứ tư - 16/11/2016 06:37 - Người đăng bài viết: admin

NGƯT, TS. Nguyễn Viết Dũng
P.Vụ trưởng, P.Giám đốc Cơ quan đại diện Bộ GD-ĐT tại TP.HCM
Nguyên Hiệu trưởng nhà trường từ năm 1991-2006

     Trường THPT Tháp Mười, ngôi Trường mà tôi đã gắn bó cả tuổi thanh xuân và xem như một phần máu thịt của mình đã trải qua 40 năm thành lập, xây dựng và trưởng thành. Nhìn cơ ngơi khang trang xanh- sạch đẹp như hôm nay, ít ai có thể hình dung được những khó khăn, vất vả một thời mà thầy, trò của Trường đã trải qua. Để có được ngôi Trường như hiện nay, ngoài sự quan tâm, tạo điều kiện của lãnh đạo các cấp, các ngành còn có sự đóng góp công sức, mồ hôi, nước mắt và cả máu của bao nhiêu thế hệ thầy cô và học sinh của Trường. Nhằm ôn lại một thời để nhớ, tôi xin hồi ức lại những kỷ niệm sâu sắc của mình trong những ngày gian khó nhưng cũng rất đỗi tự hào với mái Trường thân yêu này.
     Kỷ niệm ngày nhận công tác.
     Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi tham gia khoá học sĩ quan dự  bị trước lúc nhận công tác, tôi gặp thầy Nguyễn Quốc Hiệu ghé thăm một người bạn học chung với tôi, được biết thầy đang dạy tại Đồng Tháp, nghe thầy kể về vùng sông nước mêng mang Tháp Mười, cùng với những ký ức về vùng Đồng Tháp Mười qua những trang sách và lời thầy cô giảng khi đang học phổ thông,  nên tôi chọn vào Đồng Tháp công tác, mặc dầu nhà trường đã phân công tôi vào dạy trường Đại học Tây Nguyên.
Tháng 10 năm 1981, tôi được Ty Giáo dục Đồng Tháp phân công về trường Cấp 3 Mỹ An (nay là trường THPT Tháp Mười), tàu lô cập bến khoảng 5 giờ chiều, đang loay hoay hỏi đường về trường thì gặp thầy Hiệu đang hướng dẫn lao động lớp 11B, đúng là quả đất tròn và một điều thú vị nữa là sau đó tôi lại được phân công chủ nhiệm lớp 11B này, cũng là lớp học đã để lại cho tôi rất nhiều kỷ niệm của một thầy giáo trẻ mới ra trường. Ngày vào Nam mang theo bao dự định và mơ ước về một viễn cảnh đẹp đang chờ đợi mình, nhưng thật bất ngờ thực tế hoàn toàn trái ngược. Không có căn phòng nhỏ riêng tư, không có tủ sách, không có bàn soạn giáo án... Toàn bộ giáo viên ở trong một căn nhà là nhà thương của chế độ cũ để lại (nhà xác quân đội), lợp tôn thủng nhiều chỗ, ẩm thấp, đường vào lầy lội, 10 chiếc giường kê san sát nhau, mỗi người một kiểu như dân công hoả tuyến thời chiến tranh. Sau khi được “phân chia” một chiếc giường trong góc đã gãy chân, sạp ọp oẹp, không có chiếu và nhiều phân gà trên đó, bỏ ba lô lên giường, tôi theo anh em giáo viên cùng nhau lên xuồng đi ăn tiệc nhà học sinh, bữa nhậu đầu đời này được anh em giáo viên và phụ huynh rất “nể phục”.
  
     Đến năm 1984, không còn mượn tạm nhà thờ Tin Lành để dạy học nữa, trường được xây dựng và khu tập thể nhà trường được xây mới năm 1988, khang trang, đẹp, rộng rãi, nhưng những kỷ niệm trong những năm đầu gian khó không bao giờ quên được đối với chúng tôi
.
     Kỷ niệm về nhận tháng lương đầu tiên.
     Ngày nhận công tác, Nhà trường cho nghỉ hai ngày để chuẩn bị lên lớp. Ban đêm không đèn dầu, muỗi thì nhiều vô số kể nên phải vào mùng sớm, cái mùng thì đúng thảm hoạ, anh em bắt phải bỏ đi mua mùng mới, bởi vì thủng quá nhiều, buộc túm nhiều chỗ làm mùng xiên xẹo, tệ nhất là loang lỗ nhiều màu. Cái mền thì rách toang hoác, không dám giặt vì sợ nó vữa ra nên mùi mồ hôi có màu đen xỉn rất khó coi, buộc phải mua mới. Quần áo thì có 2 bộ, một bộ thì vá nhiều chỗ, quần thì cao đến mắt cá chân, thời còn sinh viên đều nghèo như nhau thì không sao, bây giờ là giáo viên nên bộ quần áo cháo lòng này không dùng được; chỉ còn mỗi bộ quần áo bộ độ màu xanh tô châu còn khá đẹp, đây là chiến lợi phẩm của đợt học sỹ quan dự bị cuối khoá; còn nói về đôi dép nhựa, nó nặng phải gấp hai lần đôi dép bình thường vì phải dán nhiều lần đè lên nhau, màu sắc vừa đen vừa nâu, cạnh rất sắc, nó cứa vào chân thành sẹo rất đau, chiều hôm đến nhận nhiệm sở đường trơn, bùn nhão nhiều nên đôi dép bị về chầu diêm vương, mượm tạm dép người khác, vì thế cũng phải mua mới. Thầy Lê Xuân Hàm dẫn tôi lên văn phòng tạm ứng tiền lương và chỉ cho tôi mua sắm đồ đạc, dụng cụ, giấy viết… Cuối tháng, tôi háo hức lên văn phòng nhận lương, cô Đỗ Thị Rít thủ quỹ yêu cầu tôi ký một loạt giấy tờ và nở một nụ cười, nói tháng lương đầu tiên của thầy còn hai hào đây. Tờ hai hào màu xanh của tháng lương đầu tiên tôi giữ mãi trong ví, luôn mang bên mình làm kỷ niệm, để nhớ và nhắc nhở mình phải trân trọng những gì mà mình có được ở mảnh đất “Tháp Mười đẹp nhất bông sen” này.
      Kỷ niệm về giờ dạy bất đắc dĩ.
     Tôi về trường được phân công dạy toàn bộ khối 10; dạy và chủ nhiệm 11B. Tuy nhiên, do thầy Hiệu dạy các lớp còn lại hay đau bụng nên thường xuyên nhờ tôi dạy thay, việc dạy thay lớp 11 là bình thường, nhưng sự cố lại xảy ra ở lớp 12. Vào một buổi sáng có học sinh từ trường chạy về khu tập thể nói là thầy Hiệu nhờ thầy lên lớp dạy thay, lên văn phòng thấy thầy Hiệu đang nằm úp mặt rên, tôi hỏi dạy thay lớp nào, thầy nói lớp 12A, hình như môn giải tích thì phải. Khi tôi vào lớp, đã hơn15 phút trôi qua rồi, tôi hỏi lớp là hôm nay học bài gì, lớp trưởng Đinh Minh Dũng (nay là Chủ tịch huyện Tháp Mười) trả lời rằng, hôm nay học tiếp bài “Tính chất của tích phân bất định”. Nghe nói vậy, tôi bị choáng, mới ra trường chưa kịp nắm bắt chương trình, ở ngoài Bắc học chương trình hệ 10 năm, còn đây học hệ 12 năm. Tích phân bất định học ở đại học năm thứ nhất, lâu quá rồi, làm sao nhớ đây, vừa đi lên, đi xuống vừa suy nghĩ cách đối phó, hoặc là giữ lớp ngồi nói chuyện, hoặc là dạy luôn. Làm liều, tôi mượn cuốn sách giáo khoa liếc qua thì thấy cách tiếp cận việc chứng minh 5 tính chất (chương trình hiện nay nêu tóm tắt không chứng minh như cũ) khác với chương trình ngoài Bắc tiếp cận theo Liên Xô. Trong lúc bí bách, tôi làm liều kêu một học sinh phát biểu lại định nghĩa tích phân bất định nhằm kéo dài thời gian, khi đó tôi tập trung liếc nhìn và suy ngẫm về các tính chất này phải chứng minh thế nào. Tiếp đến, tôi gọi lớp trưởng nhắc lại định nghĩa và từ đó “kịp thời” hướng dẫn học sinh suy ngược ra các tính chất 1 và 2. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi sau đó tôi vừa hướng dẫn vừa gọi học sinh phát biểu ý kiến để có tính chất 3, đến tính chất 4 tôi gọi lớp trưởng lên bảng chứng minh và gợi ý, hướng dẫn, đồng thời suy nghĩ cách chứng minh tính chất 5. Tính chất 5 thực sự khó, tôi tính cho về nhà xem như bài tập, nhưng còn thời gian và đây là một định lý khó phải sử dụng tính chất bất đẳng thức tam giác và nguyên lý kẹp rất phức tạp, cuối cùng tôi cũng may mắn giải quyết được.
Sau tiết dạy, cả lớp vỗ tay, nói thầy giảng dễ hiểu và giọng nói tương đối dễ nghe (giáo viên Nghệ Tĩnh nói học sinh rất khó nghe), còn tôi thì hú hồn và bây giờ mới kể. Mặc dù giờ dạy thành công nhưng đây là sự chủ quan, bồng bột của tuổi trẻ, là bài học luôn nhắc tôi rất nhiều, nhất là khi bước vào công tác quản lý nhà trường sau này.
     Kỷ niệm về tiệm hớt tóc của thầy Trương Công Ánh.
     Thầy Ánh dạy môn Sử, là người rất có cá tính, học sinh rất thích, nhưng thầy chỉ dạy ở trường từ 1981 đến 1986, thầy là người để lại nhiều chuyện vui trong giáo viên và học sinh. Thời kỳ này rất khó khăn, trường toạ lạc trên vùng đất là nghĩa địa rộng lớn, xung quanh không có nhà dân, nhà tập thể tre lá nằm trơ trọi sát bờ sông, hết giờ dạy thì không biết làm gì ngoài soạn bài và đi nhậu, vì thế anh em bàn nhau kiếm việc làm thêm. Thấy mọi người kiếm thêm việc làm như dạy kèm, chăn nuôi, trồng trọt, bán kẹo bánh… thế là thầy mở tiệm hớt tóc có tên “Hớt tóc Như Ý”, treo bảng hiệu ở góc cổng nhà tập thể giáo viên. Người đầu tiên đến hớt tóc là cu Lào, con anh Ba Vấn, lúc đó anh Ba Vấn còn nghèo, làm bảo vệ trường, xin nhà trường làm cái nhà chòi ở góc trường mé bờ sông, vừa ở vừa làm nghề thợ mộc vì con đông. Nghe thầy Ánh và thầy Hàm (lúc đó thầy Hàm làm mộc cho anh Ba) quảng cáo êm tai, chị Ba Vấn dẫn cu Lào sang nhờ thầy Ánh hớt tóc mở hàng, hớt xong nhìn vào gương thấy cái đầu mình trọc lóc, cu Lào khóc rống lên, chạy về nhà, chị Ba vừa khóc vừa dẫn con sang bắt đền thầy Ánh. Thầy Ánh bảo tại nó cứ cựa quậy hoài làm cho bên cao bên thấp, sửa đi sửa lại thành ra như rứa, cu Lào bảo không phải tại con, mà tại cái tông-đơ của thầy cùn quá nó giựt tóc con đau, nên con phải nghiêng để né. Cuộc cãi vã không có hồi kết, tôi về trễ cũng tham gia góp ý là thôi chuyện đã rồi, cũng tại chị Ba hiểu chưa kỹ quy định nên ráng chịu, đang bực mình, chị bảo thầy nói chi rứa, tôi chỉ tấm bảng hiệu nói rằng, đây là tiệm hớt tóc Như Ý, nghĩa là hớt tóc như ý thợ, mọi người cười ồ và giải tán.
Tiệm hớt tóc của thầy chỉ tồn tại khoảng đâu vài ba tháng vì chỉ có học sinh đến hớt, học sinh thì cũng rất nghèo và các em thường “quên mang theo tiền” mà thầy thì không nỡ đòi tiền các em.
     Kỷ niệm về buổi lao động khủng khiếp.
     Trước hết nói về việc lao động của học sinh trong giai đoạn khó khăn của nhà trường, học sinh phải làm những công việc nặng nhọc như cắt lúa, đắp đường, đào ao, san lấp trường, làm nhà, vác xi măng, làm khung sắt nhà lầu, trộn và đổ bê tông, vv… nhiều hôm đến 7 giờ tối chưa cho về, phụ huynh đến phản đối. Nhiều học sinh bị tai nạn, có cả học sinh gãy chân bó bột nghỉ học cả tháng. Mỗi lần gặp mặt, các cựu học sinh thường kể cho nhau nghe về những kỷ niệm một thời áo trắng vất vả nhưng đầy mộng mơ.
Năm 1983, nhà trường được UBND huyện Tháp Mười cấp cho khu đất để xây trường mới vì chưa có trường mà phải học nhờ ở nhà thờ Tin Lành, đó là khu nghĩa địa rộng khoảng gần 4ha, chỉ có thưa thớt vài ba hộ dân sống xung quanh, thầy trò phải lao động đắp bờ bao xung quanh trường và phải tự dọn dẹp vệ sinh, tham gia đắp nền và làm phòng học bằng tre lá. Khu nghĩa địa đang được cất bốc mộ nhưng chỉ là những ngôi mộ lộ thiên, còn không biết cơ man nào là mộ nằm chồng lên nhau ở phía dưới.

Lớp 12B tôi chủ nhiệm, được giao nhiệm vụ đắp một đoạn bờ bao nằm ở hướng Nam, gần tết thời tiết rất nóng, lao động giữa đồng không mông quạnh rất khát nước và dễ bị bệnh. Khoảng 3 giờ chiều, đang là lúc nắng nóng nhất, nhìn những học sinh dùng xà beng bẩy từng tảng đất to khoảng gần cả khối, cùng nhau di chuyển khó khăn đến vị trí đã định, mồ hôi nhễ nhại, cả lớp chỉ có 3 em nữ không kịp phục vụ nước cho lớp, mà phải bổ sung thêm mấy em nam vì khoảng cách chỗ làm quá xa nơi dân cư, đi lại rất khó khăn. Chỗ làm của lớp gần các ngôi mộ mới cất bốc nên mùi hôi thối từng đợt thổi vào hướng của lớp đang lao động, ai cũng muốn nghỉ để hôm khác làm. Một mặt tôi động viên lớp cố gắng, đồng thời bàn bạc với lớp trưởng, nếu cho nghỉ phải báo Nhà trường, hôm sau cũng phải làm và tình trạng này vẫn thế. Thống nhất với lớp trưởng là dù thế nào cũng phải quyết tâm vì đây là đợt lao động cuối cùng và sẽ được nghỉ để tập trung ôn thi tốt nghiệp. Trong hoàn cảnh đó, một cảnh tượng khủng khiếp xẩy ra, một bầy chó cắn nhau, tranh những khúc xương người trong ngôi mộ vừa bốc, bỗng đâu nghe tiếng vù vù của hàng ngàn con ruồi bung lên từ dưới ngôi mộ lên cao như một đám mây đen bao phủ một vùng, chưa kịp hoàn hồn thì mùi hôi thối nồng nặc ập vào, mọi người vùng chạy theo bản năng tự nhiên. Tôi định thần và gọi lớp trưởng Võ Văn Vẹn, Bí thư Lê Thanh Nghiêm cùng ở lại, động viên mọi người trở lại hoàn thành phần  công việc sắp xong

     Hình ảnh của buổi lao động này luôn ám ảnh tôi, đi suốt theo tôi trong những năm tháng công tác tại Trường và đến bây giờ. Có lẽ sự hồn nhiên, vô tư của lứa học trò chủ nhiệm đầu đời này đã một phần giữ chân tôi ở lại nơi mảnh đất Tháp Mười, quê hương thứ hai của tôi.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2016


 

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 12 trong 4 đánh giá
Click để đánh giá bài viết