Rss Feed

Tiêu chí đánh giá tiết dạy theo công văn 1196

Đăng lúc: Thứ hai - 10/12/2018 09:03 - Người đăng bài viết: admin
Qua các đợt hội thảo - hội giảng, theo yêu cầu của nhiều giáo viên THPT  Phòng GDTrH-TX&CN gửi lại các tiêu chí và mức độ đạt của từng tiêu chí đánh giá tiết dạy theo Công văn 1196 để giáo viên tham khảo.
Tiêu chí Mức độ
Mức 1 Mức 2 Mức 3
Mức độ phù hợp của chuỗi hoạt động học với mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học được sử dụng. Tình huống/câu hỏi/nhiệm vụ mở đầu nhằm huy động kiến thức/kĩ năng đã có của HS để chuẩn bị học kiến thức/kĩ năng mới nhưng chưa tạo được mâu thuẫn nhận thức để đặt ra vấn đề/câu hỏi chính của bài học. Tình huống/câu hỏi/nhiệm vụ mở đầu chỉ có thể được giải quyết một phần hoặc phỏng đoán được kết quả nhưng chưa lí giải được đầy đủ bằng kiến thức/kĩ năng đã có của HS; tạo được mâu thuẫn nhận thức. Tình huống/câu hỏi/nhiệm vụ mở đầu gần gũi với kinh nghiệm sống của HS và chỉ có thể được giải quyết một phần hoặc phỏng đoán được kết quả nhưng chưa lí giải được đầy đủ bằng kiến thức/kĩ năng cũ; đặt ra được vấn đề/câu hỏi chính của bài học.
Kiến thức mới được trình bày rõ ràng, tường minh bằng kênh chữ/kênh hình/kênh tiếng; có câu hỏi/lệnh cụ thểcho HShoạt động để tiếp thu kiến thức mới. Kiến thức mới được thể hiện trong kênh chữ/kênh hình/kênh tiếng; có câu hỏi/lệnh cụ thể cho HS hoạt động để tiếp thu kiến thức mớivàgiải quyết được đầy đủ tình huống/câu hỏi/nhiệm vụ mở đầu. Kiến thức mới được thể hiện bằng kênh chữ/kênh hình/kênh tiếng gắn với vấn đề cần giải quyết; tiếp nối với vấn đề/câu hỏi chính của bài học để HS tiếp thu vàgiải quyết được vấn đề/câu hỏi chính của bài học.
Có câu hỏi/bài tập vận dụng trực tiếp những kiến thức mới học nhưng chưa nêu rõ lí do, mục đích của mỗi câu hỏi/bài tập. Hệ thống câu hỏi/bài tập được lựa chọn thành hệ thống; mỗi câu hỏi/bài tập có mục đích cụ thể, nhằm rèn luyện các kiến thức/kĩ năng cụ thể. Hệ thống câu hỏi/bài tập được lựa chọn thành hệ thống, gắn với tình huống thực tiễn; mỗi câu hỏi/bài tập có mục đích cụ thể, nhằm rèn luyện các kiến thức/kĩ năng cụ thể.
Có yêu cầu HS liên hệ thực tế/bổ sung thông tin liên quan nhưng chưa mô tả rõ sản phẩm vận dụng/mở rộng mà HS phải thực hiện. Nêu rõ yêu cầu và mô tả rõ sản phẩm vận dụng/mở rộng mà HS phải thực hiện. Hướng dẫn để HS tự xác định vấn đề, nội dung, hình thức thể hiện của sản phẩm vận dụng/mở rộng.
Mức độ rõ ràng của mục tiêu, nội dung, kĩ thuật tổ chức và sản phẩm cần đạt được của mỗi nhiệm vụ học tập. Các nhiệm vụ học tập thể hiện được tiến trình các hoạt động của GV và HS (giao nhiệm vụ, thực hiện nhiệm vụ, trao đổi thảo luận, đánh giá); Tuy nhiên, việc dự kiến lựa chọn các kĩ thuật tổ chức hoạt động học chưa phù hợp với nội dung dạy học và điều kiện của địa phương. Chưa rõ sản phẩm HS cần đạt được. Các nhiệm vụ học tập thể hiện được tiến trình các hoạt động của GV và HS. Dự kiến lựa chọn được kĩ thuật dạy học phù hợp với nội dung dạy học và điều kiện của địa phương. Có yêu cầu sản phẩm cần đạt được của mỗi nhiệm vụ học tập.
 
Các nhiệm vụ học tập thể hiện rõ tiến trình các hoạt động của GV và HS, dự kiến sử dụng kĩ thuật tổ chức dạy học phù hợp với nội dung bài học, điều kiện của địa phương. Dự kiến được thời gian cho các hoạt động. Dự kiến được các tình huống sư phạm có thể phát sinh trong mỗi nhiệm vụ. Giải pháp giải quyết.
Mức độ phù hợp của thiết bị dạy học và học liệu được sử dụng để tổ chức các hoạt động học của HS. Có chuẩn bị thiết bị/tài liệu, nhưng cẩu thả, chưa thật phù hợp với nội dung bài học.
Chưa có các phương án dành cho HS sử dụng, thao tác trên thiết bị, tài liệu dạy học trong quá trình học tập.
 
 
Có chuẩn bị thiết bị/tài liệu (bao gồm cả thiết bị tự học, ứng dụng CNTT) phù hợp với mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp và kĩ thuật dạy học. Tuy nhiên, chưa biết cải tiến phương tiện dạy học.
Đưa ra được các phương án dành cho HS khai thác, sử dụng thiết bị dạy học, song chưa thật hiệu quả và còn mang tính hình thức.
Chuẩn bị thiết bị/tài liệu (bao gồm cả thiết bị tự học, ứng dụng CNTT) phù hợp với mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp và kĩ thuật dạy học. GV có cải tiến/sáng tạo phương tiện dạy học mới.
Có phương án dành cho HS được thao tác trên thiết bị, tài liệu học tập và có tác động rõ rệt đến chất lượng học tập của HS.
Mức độ hợp lí của phương án kiểm tra, đánh giá trong quá trình tổ chức hoạt động học của HS. Xây dựng được phương án kiểm tra đánh giá HS trong mỗi hoạt động học và toàn bài, song chưa rõ ràng  chủ yếu đánh giá kiến thức và vàkĩ năng của HS. Xây dựng được các phương án kiểm tra đánh giá HS trong từng hoạt động học và toàn bài: đánh giá kiến thức, kĩ năng, thái độ học tập, khả năng giao tiếp,...
 
Xây dựng được các phương án kiểm tra đánh giá HS trong từng hoạt động học và toàn bài, công cụ đánh giá kiến thức, kĩ năng, thái độ học tập, khả năng giao tiếp,... phù hợp với nhiều đối tượng HS khác nhau.

Việc phân tích, rút kinh nghiệm về hoạt động của giáo viên và HS được thực hiện dựa trên thực tế dự giờ theo các tiêu chí dưới đây.
          - Hoạt động của giáo viên

Tiêu chí Mức độ
Mức 1 Mức 2 Mức 3
Mức độ sinh động, hấp dẫn HS của phương pháp và hình thức chuyển giao nhiệm vụ học tập. HS được giao nhiệm vụ  học tập cụ thể. Tuy nhiên, phương thức chuyển giao chưa lôi kéo được HS vào nhiệm vụ học tập. Nhiều HS còn thụ động với nhiệm vụ học tập được giao. HS được giao nhiệm vụ học tập và được hướng dẫn cụ thể. Phương thức chuyển giao rõ ràng đa số HS hiểu được nhiệm vụ học tập.
 
HS được giao nhiệm vụ cụ thể, được hướng dẫn rõ ràng, phương thc chuyển giao sinh động, lôi kéo được HS tham gia, HS hiểu và chủ động thực hiện được các nhiệm vụ GV giao.
Khả năng theo dõi, quan sát, phát hiện kịp thời những khó khăn của HS. Biết thu thập thông tin phản hồi về mức độ nhận thức của HS để điều chỉnh phương pháp dạy học kịp thời, song còn hình thức; Một số HS còn gặp khó khăn trong học tập GV chưa phát hiện được. Biết vận dụng các biện pháp khác nhau để quan sát, phát hiện, thu thập thông tin phản hồi kịp thời từ phía HS. Sử dụng các thông tin thu thập được để điều chỉnh, uốn nắn HS kịp thời, song hiệu quả chưa rõ ràng. Khả năng quan sát theo dõi phát hiện kịp thời khó khăn của HS tốt: cử chỉ, hành vi, nét mặt, thái độ, qua vở ghi bài, câu hỏi phát vấn,…) GV kịp thời điều chỉnh và giúp đỡ HS còn khó khăn trong học tập, bước đầu có kết quả.
Mức độ phù hợp, hiệu quả của các biện pháp hỗ trợ và khuyến khích HS hợp tác, giúp đỡ nhau khi thực hiện nhiệm vụ học tập. Trong quá trình học tập các mối quan hệ tương tác giữa: HS với HS, HS với GV, HS với tài liệu học tập đã được GV chú ý tổ chức, song còn mang tính hình thức và hiệu quả chưa cao. Trong quá trình học tập các mối quan hệ tương tác giữa: HS với HS, HS với GV, HS với tài liệu học tập đã được GV chú ý tổ chức, bước đầu mang lại kết quả nhất định. Trong quá trình học tập các mối quan hệ tương tác giữa: HS với HS, HS với GV, HS với tài liệu học tập diễn ra rất tích cực và hiệu quả..
 
Mức độ hiệu quả hoạt động của GV trong việc tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động và quá trình thảo luận của HS.  GV có phân tích, nhận xét, đánh giá và tổng hợp các kết quả học tập và quá trình thảo luận của HS, song còn mang tính hình thức, áp đặt và chủ yếu HS chỉ được đánh giá về kiến thức, kĩ năng. HS không được tham gia vào quá trình đánh giá, phân tích kết quả học tập.
 
GV có phân tích, nhận xét, đánh giá và tổng hợp các kết quả học tập và quá trình thảo luận của HS về các mặt, kiến thức, kĩ năng, thái độ học tập và hợp tác. HS được tham gia vào quá trình đánh giá, tổng hợp kết quả học tập. Song mới chỉ tập trung vào một số HS. GV có phân tích, nhận xét, đánh giá và tổng hợp các kết quả học tập và quá trình thảo luận của HS về các mặt, kiến thức, kĩ năng, thái độ học tập và hợp tác. HS được tham gia vào quá trình đánh giá, tổng hợp kết quả học tập, HS cảm nhận không bị áp đặt, được tôn trọng và cảm thấy mình có giá trị.
 

Tác giả bài viết: Admin
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết